Blogger Widgets

Máy sấy cà phê bằng năng lượng mặt trời

Khoa Kỹ thuật hóa học, trường Đại học Bách Khoa TPHCM đã chế tạo thành công máy sấy cà phê bằng năng lượng mặt trời.
Ông Đỗ Hoàng Thắng, thành viên nhóm nghiên cứu, cho hay ngoài việc sử dụng năng lượng mặt trời để sấy cà phê, thiết bị này còn có thể sử dụng các nguyên liệu khác là phế phẩm nông nghiệp như vỏ trấu, vỏ cà phê, bã mía, rơm rạ, gỗ vụn… để đốt tạo hơi nóng giúp sấy cà phê khi trời không có hoặc ít nắng.
Máy sấy cà phê
Máy sấy cà phê bằng năng lượng mặt trời
“Cấu tạo của máy gồm các ống thu nhiệt của máy nước nóng năng lượng mặt trời, bồn chứa lưu chất để lưu trữ lại năng lượng mặt trời để phục vụ cho công việc sấy. Khí nóng sẽ qua buồng trao đổi nhiệt kết hợp với khí từ việc đốt các loại phế phẩm nông nghiệp để vào buồng sấy. Sau đó, khí sẽ được thoát ra cùng hơi nước”, ông Thắng giải thích về nguyên lý hoạt động của máy.
Cũng theo ông Thắng, công suất của máy này khoảng 200 kg/mẻ cà phê, độ ẩm của cà phê sau khi sấy là 12%. Giá tiền một máy hơn 100 triệu đồng; nhóm đang tìm đối tác để chuyển giao công nghệ.
Ông Thắng còn cho biết, nhóm đang nghiên cứu để có thể cải tiến cho phù hợp với tất cả các loại nông sản với năng suất khác nhau.

VĂN HOÁ CÀ PHÊ: NGHI THỨC CÀ PHÊ

Có nhiều nghi thức cà phê trên toàn thế giới: trong phòng ăn trưa của văn phòng, ở quán bar bán cà phê hơi nén, ở phòng khách của người Thuỵ Sỹ, trong phòng dành để uống cà phê của người Nhật.

VĂN HOÁ CÀ PHÊ: NGHI THỨC CÀ PHÊ.
Nghi thức thường  chọn cà phê, rượu, peyote làm những chất thay đổi nhận thức và truyền đạt những suy nghĩ của họ đến thần kinh. Người ta thấy sự hiện diện của Thượng Đế trong những  chất này bởi vì khi dùng chúng họ được thoát khỏi thế giới trần tục và nắm bắt được thực tế một cách rõ ràng.
Đây chính là lí do tại sao nghi thức không chỉ là sự  hiếu khách và tín ngưỡng mà còn là sự kỷ niệm những sự kiện đặc biệt, mà ngưới ta cầu nguyện cho những người sống sót. Khía cạnh cuối cùng mà tôi muốn đề cập là (nguyên tắc) ý nghĩa căn bản của buổi giải lao giữa giờ, coffee klatch, những giờ hạnh phúc và cà phê dùng sau buổi ăn chiều. Có những nghi thức không cần thiết nhưng không dễ nhận ra là nó giúp duy trì  tình cảm, quan hệ giữa con người với nhau.
Ơ nhiều nền văn hoá, nghi thức uống trà và cà phê mang tính bán tôn giáo. Nổi tiếng nhất là lễ trà đạo của người Nhật,  bột trà được khuấy trong một loại chén truyền thống để tạo thành nước uống cô đặc giàu hàm lượng các chất, sau đó được chuyển đi một cách trang trọng từ người này đến người kia một cách im lặng. Lễ trà đạo là một hoạt động thiền mang tính cộng đồng nhận biết sự hiện diện của linh hồn. Không ai nghi  ngờ rằng chất caffeine trong trà có khả năng hỗ trợ khả năng nhận biết năng lực siêu nhiên.

VĂN HOÁ CÀ PHÊ: CÀ PHÊ LÀ MỘT VẬT THIÊNG.

Cà phê có lịch sử lâu đời là một chất mang tính tinh thần. Frederik wellman trong cà phê, thực vật học, sự canh tác và tận dụng mô tả lễ uống máu ăn thề kết nghĩa anh em của người Châu Phi, trong đó máu của hai bên ăn thề sẽ được trộn với nhau đặt giữa hai hạt cà phê giống nhau và được nuốt toàn bộ.

Ơ thế giới hiện đại, cà phê là thức uống đen, nóng: trước tiên được sử dụng như một bài thuốc, kế tiếp là phương tiện hỗ trợ để tuyên thệ và thiền định của người Ả Rập, cũng giống như trà xanh được các  thầy tăng Zen ở Nhật Bản dùng để tổ chức lễ và củng cố niềm tin. Lúc đầu những tín đồ của thiên chúa giáo có thói quen goi cà phê là “ phát minh vừa đen vừa đắng của quỉ Sa Tăng” vì nó chống lại rượu của người Thiên Chúa Giáo, nhưng vào thế kỷ 16 Giáo Hoàng Clement VIII đã thử dùng cà phê và thường sử dụng nó trong lễ ban phước lành.
VĂN HOÁ CÀ PHÊ: NGHI THỨC CÀ PHÊ.
Đối với những người ở Horn của Châu Phi và một số khu vực ở  Trung Đông, cà phê vẫn còn mang ý nghĩa tôn giáo và yếu tố  lễ nghi vẫn còn được nhận thức. Những người Ethiopi và Erite đã mang theo những nghi thức cà phê khi nhập cư vào Mỹ. Lần đầu tiên tôi gặp một buổi lễ cà phê là ở trong một căn hộ của một anh bạn người Eritre trong khu vực nội thành của Oakland, California. Vợ của anh ta rang cà phê xanh trong một cái chảo cạn đáy, để cho hơi cà phê vừa rang xong toả ra khắp phòng cho mọi người có thể thưởng thức khói cà phê vừa đen vừa ngọt, sau đó làm nguội nó trên một chiếu rơm nhỏ, xay bằng máy xay điện (khi nhà ở Eritrea, cô ấy sẽ sử dụng một cái cối và chày lớn, cô ấy giải thích rằng tiếng xay cà phê có thể làm phiền những người hàng xóm ở tầng dưới) cô ấy pha cà phê trong một bình làm bằng đất sét và thưởng thức trong một tách nhỏ.
Đó là cơ hội để trò chuyện và tán ngẫu, cảm nhận hơi ấm từ tách cà phê, thưởng thức cách trình diễn pha trà mà việc thưởng thức nó làm mất cả buổi sáng.
Có nhiều nghi thức cà phê trên toàn thế giới: trong phòng ăn trưa của văn phòng, ở quán bar bán cà phê hơi nén, ở phòng khách của người Thuỵ Sỹ, trong phòng dành để uống cà phê của người Nhật, bất kỳ nơi nào mà người uống cà phê tụ tập lại để đọc báo, chia sẻ những giây phút bên nhau khi không phải bận tâm về những trách nhiệm, công việc với những người bạn của mình.
Nghi thức còn được thể hiện trong mùi và vị của cà phê. Mùi, hương, động tác âm thanh đặc trưng cho một loại cà phê và tạo nên một phong cách điềm tĩnh, an khang của nền văn hoá. Tôi tin rằng nguyên nhân  tồn tại của  máy lọc cà phê bằng ống bơm ở Mỹ 1940 –1960. đối với người Mỹ trong thời kỳ này, tiếng kêu lốp bốp nhẹ và mùi toả ra giúp nhận ra loại cà phê, làm họ cảm thấy dễ chịu thậm chí khi họ chưa đưa lên miệng uống.
Những nền văn hoá khác cũng có những liên tưởng tương tự. Đối với những người ở Trung Đông và Đông Âu nước sủi bọt trên bình là điều không thể thiếu không chỉ vì nó ngon mà còn vị nó tượng trưng cho màu lửa đỏ khi pha và chế biến cà phê. Người Ý tương đối coi trọng lớp bọt khi pha bằng khí nén. Một người Ý sẽ không đánh giá cao một ly tazzina pha bằng hơi nén nếu không có lớp bọt  ở trên mà đối với những người uống cà phê lọc nó giống như lớp váng màu vàng. Tuy nhiên, lớp váng này là dấu hiệu chất lượng của một ly pha bằng khí nén. Người ta thích lớp bột sữa ở trên những thức uống như Cafe latte và Cappuccino. Lớp không có vị, nhưng một tách Cappuccino sẽ không phải là Cappuccino nếu không có nó.
Gần đây một diễn viên hài đã phát triển ý tưởng về sự giao lưu giải trí là một cách để khắc phục tình trạng số người đi nhà thờ ngày càng giảm.
Đối với hầu hết chúng ta, những nghi thức uống cà phê đã có những thay đổi rất đáng kể. Chúng ta mua Cafe lattes để trên giấy bìa cứng có sử dụng gas bơm thay vì một vại cà phê cermic chảy nhỏ giọt hoặc một tách demitasse of espresso ngon lành. Thay vì dùng cà phê như là  chất xúc tác cho những phút giây trầm tư một mình, một cuộc trò chuyện với bạn bè, hay  tán ngẫu với những người bồi bàn, Caffe lattes để trên giấy bìa cứng giúp kết hợp công việc với việc thưởng thức cà phê, một người Đan Mạch mang khăn ăn và nói chuyện điện thoại với khách hàng.
Dĩ nhiên chúng ta không làm gì để xoá bỏ kiểu thưởng thức này ngoài việc khuyên họ chậm lại và từ từ thưởng thức mùi vị cà phê và có lẽ sẽ thay giấy cứng bằng một vại bằng thép không gỉ được cách nhiệt.
Tôi thường ước rằng mình có thể dẫn những người khách hàng không được phục vụ chu đáo; uống loại cà phê nhiều caffeine và những baristas địa phương đến Italy, nơi mà họ sẽ được trải qua nghi thức cà phê rất lịch lãm, nhanh chóng, hiệu quả, không ai có thể bận như người Ý, tuy nhiên họ vẫn dành chút thời gian để thưởng thức cà phê và những khoảnh khắc xung quanh nó: những tách nhỏ đi cùng với đĩa và muỗng chung một bộ, với cà phê pha bằng khí nén có mùi thơm, giàu hàm lượng, pha nửa tách, để trên một thanh sạch sẽ. Trong một vài giây không có gì xen vào phút giây giữa tách cà phê và người thưởng thức. Sau đó tách cà phê được đặt lại trên đĩa kêu lạch cạch và họ có những giây phút nghĩ ngơi dù ngắn, thoát khỏi những trách nhiệm và  áp lực công việc.
VĂN HOÁ CÀ PHÊ: VĂN HOÁ NHÀ CÀ PHÊ.
 

Tập quán nhà cà phê và quán cà phê xuất hiện là do những ảnh hưởng của cà phê và chất caffeine đến thần kinh và thân thể. Cà phê kích thích tư duy tỉnh táo trong khi rượu kích thích hành động thuộc về bản năng. Nói cách khác một cách điển hình, rượu làm chúng ta muốn ăn, chiến đấu, yêu đương, khiêu vũ và ngủ trong khi cà phê khuyến khích chúng ta nghĩ, nói đọc, viết và làm việc.
Uống rượu để thư giãn và cà phê để lái xe về nhà. Đối với người Hồi Giáo, những người biết uống cà phê trên thế giới,  cà phê là rượu của Apollo, là thức uống của suy nghĩ, giấc mơ và biện chứng, là sữa của người thưởng thức và chơi cờ. Đối với những tín đồ Hồi giáo trung thành, nó là câu trả lời cho người thiên chúa giáo, rượu vô thần của Dionysus, của niềm phấn khích.
Từ những ngày đầu nhà cà phê xuất hiện đến nay, những khách hàng thường nói và đọc hơn là khiêu vũ, chơi cờ hơn là đánh bạc, tập chung nghe nhạc hơn là hát. Các quán cà phê ở gần đường thường mở ở gần đường và để ánh sáng chiếu vào, không giống như quán Bar và quán rượu, nơi mà những khoảng tối bên trong như cách ly người uống khỏi thế giới bên ngoài tĩnh táo và đầy áp lực của công việc. Người uống cà phê không chỉ tìm một nơi để trốn khỏi trách nhiệm, mà còn tìm một góc thư giãn, ở nơi đó họ có thể đọc báo và cảm nhận  thế giới như đang thay đổi bên mép bàn của họ.
Những quán cà phê thì có liên hệ trực tiếp với công việc (nơi dừng xe tải, nơi dừng để uống cà phê) và việc học hỏi. Những người uống cà phê mãi miết đọc lại hình ảnh thường thấy thậm chí tại những quán cà phê bình dân nhất.
Người Thỗ Nhĩ Kỳ gọi quán cà phê của họ là trường học của những nhà thông thái. Vào thế kỷ thứ 17 ở Anh, những nhà uống cà phê được gọi là trường đại học Penny. Cà phê đáng giá hai xu tính luôn cả tờ báo trong một cuộc hội thảo có sự tham gia của những nhà tri thức như Joseph Adison và Richard Stcel.
Trên thực tế khác với những người theo trường phái lãng mạng thường đắm mình trong không khí lãng mạng; và thế kỷ 18,19 rất khó tìm thấy một nhà tri thức Mỹ hay Châu Âu bỏ thời gian tại những nhà uống cà phê hay quán cà phê. Nên nhớ rằng một sự giác ngộ đã mang đến cho Châu Âu một tầm nhìn mới, nhưng trà và cà phê cũng vậy. Nó đã làm nên một cuộc cách mạng đáng kể đối với ngưới Châu Âu, uống cà phê vào buổi sáng thay vì ăn cá herring.
VĂN HOÁ CÀ PHÊ: TRUYỀN THỐNG TRÊN THẾ GIỚI. 
            Cà phê Thổ Nhĩ Kỳ
Truyền thống cà phê đã lan rộng khắp thế giới. Ở Australia hai bên đường là những quán cà phê kiểu Ý, và người Nhật đã phát triển những quán kisaten của họ theo kiểu lịch lãm của những quán cà phê và cửa hàng cà phê của Mỹ thập niên 1950.
Ở Anh trào lưu những quán bar Espresso phát triển rồi lụi tàn, những quán cà phê kiểu Star buck thì xuất hiện trở lại. Ở một số khu vực ở Châu Âu và Trung Đông, truyền thống này vẫn đang phát triển, cái nôi của những nhà cà phê đầu tiên, truyền thống quán cà phê đã trải qua thời kì phục hưng. Ở Mỹ trong thập niên 1930, 1940 có những nhà hàng cổ điển, thập niên 1950, 1960 có những cửa hàng cà phê với những quầy bằng vinylcùng với nhà cà phê với thành phần tham dự là những người nổi loạn, nhà thơ, những người nghiền nhạc pop, và dân hippy. Tất cả những điều này vẫn còn tồn tại với chúng ta. Những nhà hàng cổ điển được phục hồi, những cửa hàng cà phê vẫn còn phục vụ những tách cà phê không đáy và ở nhiều thành phố Mỹ, hàng trăm nhà cà phê mới tìm cách thoả mãn nhu cầu một thế hệ nổi loạn mới với những đồ dùng sinh động, nhữngposter có nội dung sâu sắc, nhạc Jazz và những ca sĩ hát nhạc dân gian.
Nhưng thập niên 1970, 1980 là thời kỳ sản sinh ra những quán cà phê theo kiểu Bắc Mỹ. Kiểu quán  cổ điển Mỹ – Ý của thập niên 1950 như caffe’ Reggoi ở Manhattan, Caffe’ Trieste ở San Frncisco đã ảnh hưởng đến chào lưu phát triển của những quán cà phê, nó đưa ta đến sự hồi tưởng về những cái đã mất và những quán cà phê thời tiền chiến ở Ý.
Từ những hồi tưởng đó hiện lên ánh sáng và không gian rộng bên trong những quán ngoại thành của Bắc Mỹ với những ghế ngồi rộng, những đồ trang trí đơn giản, một bầu không khí trang nghiêm đủ để làm người ta bớt nói truyện ồn ào và đặt chân lên ghế và thân mật, thoải mái đủ để sinh viên đến đó làm bài tập và doanh nhân làm việc. Nếu thêm vào đó một máy pha cà phê bằng hơi nước và những món ăn nhẹ của Mỹ thì sẽ ra quán cà phê kiểu Mỹ.
H&b sưu tầm và dịch

Có một tôn giáo Tên là cà phê


Hơn một tỉ người trên thế giới uống cà phê, quá nhiều để thấy thức uống này gần như đã tạo thành một tôn giáo. Buổi chiều ngày 15.12 tại Công viên Tao Đàn, nơi đang diễn ra những ngày lễ hội văn hóa cà phê, các “tín đồ” đã có một buổi trò chuyện thú vị với giáo sư Vũ Khiêu và nhà sử học Dương Trung Quốc.
“Có rất nhiều thứ nghiện mà người ta ngăn cản nhưng có lẽ nghiện cà phê là thứ chưa ai ngăn cản, chỉ có điều người ta uống theo sở thích và sức khỏe của mình thôi”, nhà sử học Dương Trung Quốc đã bắt đầu buổi nói chuyện bằng một ly cà phê nóng thứ 3 trong ngày của ông và những câu chuyện về lịch sử cà phê ở VN cũng như trên thế giới.
Cây cà phê có từ rất lâu trước khi trở thành một phần không thể thiếu sau này của hơn 1 tỉ con người. Về vùng đất được coi là xuất xứ của cây cà phê, có thể là Catfa ở Etiopia với truyền thuyết một chàng chăn dê thấy đàn dê của mình bỗng nhiên sinh động khác thường nên quan sát, và thấy chúng ăn một thứ quả đỏ mọc bên triền núi… Truyền thuyết chỉ là truyền thuyết nhưng đó là sự giao lưu về văn hóa. Nhiều sách chép rằng vào thế kỷ thứ 5 khi châu Âu bắt đầu biết đến châu Phi thông qua các cuộc chiến, theo chân những người lính, thứ nước uống kỳ diệu này đã tiến vào châu Âu. Đây là thứ nước uống luôn gắn với sự động não, cuộc sống đô thị càng căng thẳng thì người ta càng cần cà phê, tạo cơ hội cho cà phê phát triển.
Các danh nhân trên thế giới nói về cà phê
Napoleon Bonaparte: Không có cà phê chính trị chỉ còn một nửa.
Honore De Balzac: Khi chúng tôi uống cà phê, các ý tưởng xuất hiện như đi diễu hành trong quân đội.
Joham Sebastian Bach: Không có cà phê buổi sáng, cuộc đời tôi khó khăn và vô vị…
Ở Đông Dương, khi các nước thực dân xâm chiếm và biến một số nước thành thuộc địa, họ đã nhanh chóng biết rằng đây là vùng đất tương thích một cách kỳ diệu với cà phê nên bắt đầu trồng thử nó ngay khi có mặt. Vào khoảng giữa thế kỷ 19, cà phê theo chân các nhà truyền giáo phương Tây đến VN bởi với tính chất như một loại dược liệu, những đặc tính hóa học làm thần kinh sáng suốt rất cần cho lý trí để truyền giáo. Những cây cà phê đầu tiên của VN đã có từ mảnh vườn của họ. Thói quen bắt đầu từ rất ít những người phương Tây nên dù cà phê có mặt ở VN khá lâu, mãi sau này người Pháp mới trồng phổ biến hơn. Khoảng thập kỷ 80 của thế kỷ 19, người Pháp đã bắt đầu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất với hạ tầng cơ sở mà chưa quan tâm nhiều đến nông nghiệp VN. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp khai thác thuộc địa lần thứ hai, họ hiểu rằng cây cà phê rất thích hợp với thổ nhưỡng VN. Những năm 20 của thế kỷ 20, cây cà phê với các đồn điền ở cao nguyên miền Trung VN bắt đầu phát triển.
“Thực ra nếu người Pháp không đưa cây cà phê vào thì chắc chắn cà phê cũng sẽ tự tìm đường đến VN. Và khi sống ở VN nó trở thành một thứ cây rất VN tương thích với khí hậu và thổ nhưỡng nước ta. Nói một cách hình ảnh, giống Khổng giáo và Phật giáo khi vào VN cũng có những biến đổi tương thích với con người và văn hóa để trở thành văn hóa VN” – giáo sư Vũ Khiêu chia sẻ.
Cà phê là thứ uống để suy ngẫm, nên chẳng phải ngẫu nhiên dù cà phê hòa tan đang như một thứ tiện lợi, là lựa chọn của những người bận rộn, không có thời gian để dừng lại dù chỉ 15 phút mỗi sáng bên bàn cà phê thì văn hóa uống cà phê từ những chiếc phin nhỏ từng giọt chậm rãi vẫn không bị và không thể mất đi. Không chỉ bởi đó là cách uống ngon nhất khi cà phê được ngấm đủ thời gian với nước sôi mà còn vì phần thưởng xứng đáng cho người biết chờ đợi thứ nước đen như bóng đêm, nóng như hỏa ngục và đắng như mật ấy. Với những người nghiện cà phê, nhất là người VN, dù cuộc sống ngoài kia có hối hả đến mức nào, thì thời gian để chờ đợi ly cà phê pha bằng phin của họ cũng không thể thay bằng bất cứ điều gì khác. Đó không chỉ là thói quen, đó không chỉ là một cảm giác, đó là một sự thưởng thức được nâng lên thành văn hóa cho một thứ nước uống làm rung động quá nhiều giác quan của con người!
Giáo sư Vũ Khiêu: Cà phê làm cho những trái tim xa lạ gần gũi nhau, làm cho sự cô đơn không trở thành phiền muộn, cà phê là thức uống diệu kỳ và lãng mạn nhất. Tôi chưa viết riêng về cà phê bao giờ nhưng trong rất nhiều cuốn sách của tôi có từng đoạn hay từng câu nhắc đến niềm hạnh phúc hay những nỗi buồn được chia sẻ với cà phê. Bao giờ thì VN không chỉ là nước xuất khẩu cà phê mà còn là nước có những thương hiệu cà phê với bản sắc văn hóa VN được thế giới biết đến? Trong lĩnh vực ẩm thực, đã có nhiều món ăn được biết như thế, không thể nào không còn chỗ cho cà phê!
* Nhà sử học Dương Trung Quốc: Khi các bạn uống cà phê với vị đắng đặc trưng của nó, các bạn có bao giờ nghĩ đến những điều sâu xa hơn không? Các bạn hãy xem bản đồ phân bố nơi trồng cà phê và nơi tiêu thụ cà phê, nó cũng tương ứng với bản đồ phân bố các nước giàu và nghèo. Các nước nghèo là nước trồng cà phê và ngược lại, các nước tiêu thụ nhiều cà phê nhất (chế biến và uống cà phê) lại là các nước giàu.
Sự thật bất công ấy có phải là vị đắng như cà phê không? VN tự hào có lượng cà phê xuất khẩu đứng thứ hai trên thế giới nhưng cà phê hiện tại mang lại lợi ích quốc gia chưa nhiều.
Tại sao nước ta và các nước trồng cà phê khác người nông dân phải vất vả để trồng cà phê lại gần như không được nhắc đến và lợi nhuận thu về cũng chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên tổng lợi nhuận có được khi cà phê đến với người thưởng thức? Tôi mong các bạn trẻ uống cà phê mỗi ngày hãy suy nghĩ về điều đó, để làm sao sự bất công mà tôi nói ở trên không còn nữa, trong tương lai!
Theo Thanhnien

Cà phê phin thú chơi độc đáo của Người Việt






Người Việt Nam dùng cà phê theo cách rất riêng, mỗi vùng và mỗi độ tuổi thưởng thức cà phê theo kiểu khác nhau. Gu thưởng thức cũng không theo chuẩn mực nào.


Có người thích một cốc nâu đá pha sẵn đặc quánh ngọt lừ, có người chỉ say mê những giọt cà phê thong thả rơi từ chiếc phin cũ, lại có người thích uống cà phê đánh ực như uống một liều thuốc "tỉnh người". Nhưng phải công nhận một điều là cảm giác thư giãn nhìn người ta rót nước sôi xong ngồi chờ cà phê nở ra ngấm nước rồi chắt lọc từng giọt rơi xuống rất đặc biệt. Khoảnh khắc đó đem lại cho người ta thưởng thức một khoảng không gian riêng. Thời gian như được kéo giãn ra nhiều lần. Người Việt uống cà phê buổi sớm, buổi trưa, buổi tối, khi buồn, khi suy tư, khi stress công việc hay chỉ vì thói quen không thể bỏ.

Cà phê phin xuất hiện ở mọi ngóc ngách trên từng con phố, từ chỗ thật bình dân sát góc tường ngồi xổm cho đến những quán cửa kính sành điệu với những nhân viên phục vụ trong bộ đồng phục rất "pro" và người uống phải trả giá gấp 5-7 lần để uống một phin cà phê quen thuộc. Người đàn ông trong văn chương gọi cà phê là hiện thân của sự khát khao. Họ ngồi chờ cà phê rơi từng giọt như đếm phút chờ người yêu, nhâm nhi từng ngụm nhỏ như trải nghiệm từng khoảnh khắc đắng chát ngọt bùi của cuộc đời. Bỗng chốc bừng tỉnh thoát khỏi mùi thơm mê hoặc của thứ thức uống dịu kì đó bởi những tiếng lách cách leng keng của muỗng, của ly.

Một tách cà phê phê phin hiện diện cho sự sảng khoái thư giãn, đồng thời là cái thèm khát thú an nhàn hiếm hoi trong đời sống thị thành. Tuýp phụ nữ cá tính mạnh hay nhiệt huyết với công việc thường tìm đến những giải pháp tương đối an toàn để giảm Stress. Thay cho trà đặc và thuốc lá có thể làm vàng răng và khô cuống họng, cà phê vừa dễ uống lại an toàn hơn. Những cô gái rock thường thích cà phê đá không đường. Với họ cà phê là thức uống mạnh mẽ, cá tính đa, kết hợp và cho họ những hưng phấn, bốc đồng ở mức độ có thể kiểm soát được...
(Sưu tầm)


Giải mã văn hóa cà phê cóc


NGUYỄN VĨNH NGHIÊM
Ở ta, trong nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận về danh xưng thường dễ rơi vào vô bổ. Sống đã, giải nghĩa và triết lý sau, cho nên, không cứ gì bận tâm khổ sở tìm kiếm nguồn gốc chính xác một tên gọi mới mong thấu tận tinh thần của sự việc. Ở một nơi càng lắm sự mờ ám, thiếu chính danh thì đỡ bàn tán về danh xưng, càng tránh được cơ nguy sa vào sự suy diễn rối tinh rối mù. Vậy, có một cách khác hay ho hơn nhiều: hãy ngồi cà phê cóc để luận về chính nó.
Về khoa học luận mà nói, lấy ngôn ngữ để bàn về chính ngôn ngữ thì gọi là siêu ngôn ngữ, lấy khoa học để bàn về chính khoa học thì gọi là siêu khoa học, vậy tự hỏi, ngồi cà phê cóc để luận về cà phê cóc thì gọi nó là gì, không lẽ là siêu… cà phê cóc!?
Là gì thì chưa biết, song, kẻ nhàn rỗi viết bài này từng bỏ thời gian mê mẩn đọc đến vài ba chục bài báo của các nhà văn, nhà thơ, ký giả tên tuổi vẽ thêm cánh cho loại hình ẩm thực này và sau đó đi đến khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng, cà phê cóc là một nét văn hóa đặc thù (thậm chí, là bản sắc văn hóa) của người Sài Gòn. Thơ ca, âm nhạc, mỹ thuật lấy cảm hứng tập trung mô tả, khai thác chủ đề này nhiều vô kể. Chỉ điều đó thôi, cũng đủ phủ lên loại không gian quán xá tự phát (trong cái đô thị trùng trùng tự phát này) một thứ ý nghĩa lộng lẫy mang đậm tinh thần bình dân chủ nghĩa, hoặc tranh thủ gắn cái với tập tính phồn tạp phóng túng và xộc xệch của nếp sống nơi đô thị phương Nam, hay dễ thấy nhất là lồng ghép đủ thứ mớ đời rối rắm được nâng tầm nhân sinh quan ẩm thực, nghe nhức cả mũi. Những nỗ lực đó đôi khi vừa đáng yêu vừa thật hài hước. Nhưng biết sao được, phải hết sức bình tĩnh để cảm thông cho căn bệnh sính chữ vốn là một biến chứng có tính lây truyền cao ở những xứ sở luôn sẵn mang đầy mặc cảm, ẩn ức về sự khan hiếm học thuật trong khi những nghiên cứu loại kháng sinh hữu hiệu để chữa trị chứng sính chữ lại chưa tìm ra.
Trở lại câu chuyện. Có lẽ cà phê cóc cần được giải hoặc (ngõ hầu đưa nó thoát xác khỏi cái áo lãng mạn bay bổng cảm tính) trước khi trả về đúng cái diện mạo xộc xệch, nhếch nhác và giản đơn, vốn là tính cách phóng khoáng tự nhiên bất cần văn tự của nó, của cái cộng đồng sinh ra và hưởng thụ nó, để thấy nó không dễ gì đáp ứng cho cái thứ “bản sắc” quơ quào cốt chỉ thỏa mãn nguồn cơn cảm hứng tự tôn dân tộc thái quá.
Ở góc độ lịch sử ẩm thực (nghe nghiêm trọng chưa!), có thể nói rằng, đây là một dạng quán sá có lịch sử rất lâu đời trong cuộc sống của cư dân đô thị Việt Nam. Cần lưu ý, tính cách của đô thị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, bao giờ cũng chịu chi phối bởi xuất phát điểm đặc trưng nông nghiệp, nặng tính tự phát. Hình thái gốc đó của đô thị đã tác động trực tiếp lên nề nếp sinh hoạt ẩm thực tài tử, ngẫu hứng, trong đó có những mô hình dịch vụ tự phát, như quán xá vỉa hè.
Năm 1475, quán cà phê đầu tiên trên thế giới ra đời ở thành đô Constantinople của đế quốc Ottoman (1453-1922), để rồi hơn một thế kỷ sau, từ Yemen, cà phê xuất khẩu sang châu Âu và khai sinh văn hóa cà phê tại các nước Anh, Pháp, Hà Lan… Điểm lại những gạch đầu dòng trong phả hệ cà phê thế giới để thấy rằng, trong ly cà phê hôm nay mà chúng ta tận hưởng hẳn không phải là thứ thuần chủng bản địa, mà mang rõ lai lịch của một cuộc du hành – tiếp biến văn hóa. Những người Pháp theo đạo Thiên Chúa đã đưa cà phê vào Việt Nam trong quá trình truyền đạo và hiện thực hóa giấc mơ thực dân từ những năm 1850. Hẳn, những điểm dừng đầu tiên là đô thị và sau đó, là tạo ra những đồn điền. Mãi đến nay, Việt Nam không hổ danh là một nước sản xuất cà phê đứng thứ 2 thế giới và có lẽ là quốc gia có cư dân uống cà phê cũng đông nhất thế giới (mỗi năm, thị trường bản địa tiêu thụ hết 10% trên 800 đến 1 triệu tấn lượng cà phê làm ra). Cũng như với trà, người Việt Nam uống cà phê để bay bổng, phiêu diêu chứ không cần lý trí hay nâng tầm lý thuyết hóa về nó.
Nhưng từ cà phê truyền thống kiểu Pháp đến cà phê cóc của người Việt là một quãng xa của sự tiếp biến, bản địa hóa đầy ngoạn mục, đồng thời cũng mang dấu ấn nội sinh sâu sắc của những tiến trình biến đổi xã hội qua các đợt sóng đô thị hóa.
Có thể ví văn hóa cà phê cóc Sài Gòn như thứ nhạc boléro của thị dân miền Nam, nó được sinh ra để sống với nhịp đập trái tim người nhập cư trong quá trình tự thích nghi để trở thành một thị dân đúng nghĩa. Trịnh Cung, một họa sĩ từng lăn lộn trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975 nhận định, thói quen ngồi cà phê cóc của người đô thị Việt Nam thừa hưởng từ văn hóa cà phê vỉa hè của người Pháp. “Tuy nhiên – ông Cung phân tích – khi vào Sài Gòn, cà phê vỉa hè đã chia ra nhiều đẳng cấp khác nhau theo các giai tầng, địa vị xã hội của khách hàng thường lui tới. Ví dụ ngay trong giới văn nghệ, báo chí Sài Gòn lúc đó cũng có sự phân biệt: cà phê vỉa hè đẳng cấp cao thì có hành lang khách sạn Continental (ngồi ghế bành, ghế gỗ cao, ở trục đường trung tâm) trên đường Tự Do (nay là Đồng Khởi) dành cho những chủ báo, những tên tuổi có liên hệ mật thiết với các hãng thông tấn nước ngoài có uy thế về ngôn luận, học thuật. Dạng cà phê vỉa hè của những “gentleman” này, trở thành nơi đàm luận nghệ thuật, thời sự chính trị, tình hình thông tấn toàn cầu… chẳng khác các salon trung lưu trí thức tinh hoa ở phương Tây giữa thế kỷ XX là mấy. Người ta vẫn gọi đây là cà phê vỉa hè trung tâm Sài Gòn, ít ai dám tự ý dùng danh từ bình dân sặc mùi là “quán cóc” để gọi tên. Trong khi đó, giới ký giả địa phương, gần với quần chúng bình dân hơn lại thường ngồi la liệt ở những quán cóc  thứ thiệt trên góc đường Phạm Ngũ Lão – Bùi Viện, gần các tòa soạn nhựt trình thời đó. Đặc thù của dạng quán này là nằm trong khu lao động, nhếch nhác, không gian đầy vẻ bụi bặm, khách khứa đa dạng đẳng cấp nhưng nhìn chung thì đều ra vẻ năng động và dấn thân.
Ông Cung còn kể chi tiết về cách pha chế cà phê độc đáo ở các quán này: cà phê được cho vào một túi vải bít tất rồi ngâm hoặc nấu sôi, ép nước, chế biến một lúc cho số nhiều, nên gọi là cà phê bít tất. Mỹ từ “cà phê bít tất” gắn với không gian quán cóc vỉa hè từ đó.
Sau 1975, cùng với sự phai nhạt ảnh hưởng xã hội của giới trí thức, trung lưu, không gian cà phê vỉa hè sang trọng vang bóng một thời nơi những đường phố trung tâm cũng biến mất. Cho đến 20 năm sau đổi mới, với sự thúc đẩy của chính sách mở cửa thị trường, Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới, chân dung giới doanh thương thoát khỏi sự nghi kỵ tư sản, người giàu không phải vào thiên đường trần gian bằng con lạc đà như trong Kinh Thánh nữa, mà có thể xuất hiện lồng lộng trên các mặt báo như những điển hình thành đạt, đóng góp cho sự thay đổi của xã hội mà trước hết là những đô thị. Theo đó, không gian ẩm thực sang trọng đáp ứng nhu cầu cho giới này trở lại trăm nhà đua tiếng. Người ta thấy hình ảnh những cà phê vỉa hè sang trọng ngày xưa xuất hiện trở lại trên các vị trí đắc địa của vỉa hè trung tâm Sài Gòn với một bầu không khí khác. Tính chất hào hoa lịch lãm pha trộn màu sắc trí thức với những giai thoại chính trị, thông tấn đầy huyền thoại năm xưa đã mất đi, thay vào đó, là ít nhiều sự đỏm dáng, lịch lãm theo cung cách giao thiệp sòng phẳng của tinh thần năng động thời mới. Không khỏi vô can với căn bệnh nhà giàu mới – chứng khoa trương phù phiếm, đẳng cấp sành điệu chọn những không gian quán sang vỉa hè làm “đất diễn” cho nên, những terrace, vỉa hè dưới những tòa nhà chọc trời ở trung tâm được xem là chốn lả lướt phù phiếm của giới chân dài ưởn ẹo vắt vẻo bên các đại gia tóc muối tiêu chải keo bóng mượt đi xe bạc tỉ (có nhiều thi sĩ viển vông gọi đây là dạng quán “cà phê nhan sắc”).
Vì thế, những ai cố chấp, vào Highlands, Coffee Beans, NYCD trên vỉa hè đường Đồng Khởi, Nguyễn Du hay góc biệt thự Crêperies & Café trên đường Hàn Thuyên hôm nay, cố tìm chút “hơi hám” sinh khí trí thức vàng son Sài Gòn thời trước 75 thì chỉ chuốc thêm nỗi ngậm ngùi, chẳng khác Từ Thức về ngậm ngùi cố xứ. Tốt nhất là cứ hãy học cách yên thân nhấp ngụm cà phê kiểu Mỹ giữa cái nóng ba lăm độ vào sáng mùa hè và rửa mắt bằng mười ba chân dài trong một giờ. Giữa quán xá đường phố dạng này và sàn catwalk đôi khi hư thực khó mà phân biệt được!
Trong khi đó, đúng là quan nhất thời dân vạn đại, đã khiêm cung mặc vào thân phận bơ vơ cùa kẻ nhập cư, cà phê cóc chung thủy với những thượng đế muôn đời tìm đất hứa. Cùng với nhạc boléro, cà phê cóc vỉa hè bình dân có mặt hồn nhiên và ngẫu hứng bất cứ lúc nào những thượng đế nhập cư có nỗi niềm.
Có thể tả ngắn gọn vào nét đặc trưng của loại quán này: ghế nhựa thấp, bàn dã chiến, không bảng hiệu, không toilet để giải quyết những ẩn ức trong cơ chế bài tiết của hai quả thận. Cà phê cóc không cần giấy khai sanh, tên gọi, bởi nó là đứa con ngỗ ngược và hoang dại trong cuộc hôn phối giữa một nét ẩm thực của văn hóa cà phê của thực dân du nhập với sinh hoạt quán nước dân gian trong cộng đồng nông nghiệp của người bản xứ. Cộng gộp của bản tính mạnh mẽ ưa phiêu lưu và chinh phục của người cha dị chủng với sự giản dị trữ tình nhưng đầy tùy hứng thôn dã của người mẹ xuất thân thôn nữ, đứa con ấy đủ sức mạnh và sự nhạy cảm để thích ứng phố xá với một phẩm chất dấn thân, chịu chơi, bản năng đến độ không sự duy ý chí nào có thể “dọn” được. Một lai lịch đầy tính thơ và không lý gì nó không đẻ ra những nhà thơ băn khoăn tìm sinh phần hư vô của mình trong cái nghĩa lý lãng xẹt hay rối bời của đô thị. (Chắc rằng, trong tương lai, những người soạn lịch sử thơ ca đương đại Việt Nam rồi sẽ nhắc đến những không gian cà phê cóc là nơi khai sinh của những nhóm “thơ vỉa hè” đầy dấu ấn độc lập, hoang mang nối dòng hiện sinh bị đứt quãng trong tức tưởi. Hầu hết các tên tuổi thơ ca, nghệ sĩ vỉa hè Sài Gòn thời kỳ này đều có xuất phát điểm khá giống nhau - người nhập cư, “lập ngôn” và “lập nghiệp” trong thời kỳ lao đao với công cuộc mưu sinh khốc liệt ở đô thị - hẳn thế, có vẻ như thơ luôn ở cùng những tâm hồn có chút thôn dã chân thật và tinh thần… rất boléro!)
Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng vào những năm thập niên 80, 90 của thế kỷ XX và kéo dài sang thập niên đầu thế kỷ XXI đã làm thay đổi đời sống nông thôn. Trong khi đô thị đang kiêu hãnh tưởng mình nuốt chửng bờ xôi ruộng mật, thì gốc rễ nông thôn đang thực hiện quyền uy của mình, sàng lọc và âm thầm áp đặt những phẩm tính văn hóa lâu đời nhằm quy định trở lại hình ảnh của đô thị một cách sống động, tự nhiên và hoang dã nhất. Và thế giới đủ phẳng đến độ khiến cho cái đòn (và thói quen ngồi đòn gỗ) ở những quán nước nông thôn một hôm lột xác mà biến thành những chiếc ghế nhựa xanh đỏ được đặt dọc các hè phố cho người đời thủng thẳng vắt chân đọc nhật trình, ngắm phố xá hay tán dóc đủ thứ chuyện trên đời.
Quán cóc được sinh ra cho nhiều giới, nhưng có lẽ đa phần đối tượng khách hàng là những thị dân nhập cư nhàn rỗi, những người mà trong quá trình cọ xát với nhịp sống đô thị, đã luôn sẵn cơ chế đề kháng lại nguy cơ thương tích tâm lý, những cú sốc văn hóa mà đô thị mang lại. Họ có nhu cầu dừng chân ngồi lại, cần những khoảng nghỉ giữa đường ngược xuôi mưu sinh, muốn bảo dưỡng tâm hồn thơ mộng viển vông bên cạnh một nhu cầu khác hết sức mạnh mẽ - giao cảm tình thân khi nhịp sống bạc mặt có thể khiến biết bao mối quan hệ trở nên đóng băng hay rạn nứt…
Rất dễ để lý giải rằng, vì sao những kẻ sành điệu quán cóc lại rất thích những góc quán tĩnh lặng mát mẻ, ở những góc đường đẹp, đủ một khoảng cách với dòng đường chính, nhưng lại đủ một tầm nhìn để nhận thấy sự náo nhiệt. Cái tâm thế vừa sẵn sàng tách ra bên lề để tìm lại một chút riêng tư, vừa sẵn sàng lao vào, thoát ra khỏi dòng chảy náo nhiệt hỗn độn vừa lại đày đọa bản ngã bằng cách chìm đi trong hỗn loạn ngờm ngợm những chân dung kia… Và đó là trạng thái “cóc-coffeecitizen”. Và, điều này cũng gần với sự trầm lặng nơi những cá nhân phản tư. Ở một thái cực khác, hài hước thay, nó lại rất gần với sự lắm điều nhiễu sự, thích đám đông và có thể ngồi hàng giờ chỉ để chém gió (nói bốc trời) khẳng định bản thân, phóng xả ảo tưởng. Dù là ở thái cực nào, thì quán cóc cũng sẵn sàng mở cửa đón khách với một sự gánh gồng hao hơi tổn sức. Khi mà sự bình đẳng trong đời sống xã hội càng hiếm hoi thì giá trị bình đẳng mà ly cà phê cóc vỉa hè có thể mang lại càng thỏa mãn và hấp dẫn với nhiều người. Thân phận ly cà phê (không xác định được thành phần cà phê xay hay bắp rang phụ gia), thân phận quán (không tên, chủ quán Khó xác định lai lịch, nay ở chỗ này có thể mai bị tuýt còi đi nơi khác) với thân phận khách đến (như đã nói, những kẻ đang trục trặc bản thể trước đời sống tốc độ ồ ạt và đầy rẫy phi lý vô phương giải mã).
Điều này lý giải việc rất nhiều người ngồi quán cóc cho rằng họ không quan tâm đến chất lượng thức uống hay sự hợp pháp của cái chỗ ngồi. Thực ra, về mặt tâm lý tiêu dùng, họ đang mắc vào cái bẫy của sự phi lý trí, theo cách nói của Dan Ariely1 (1) (một trong những thứ tâm lý đặc thù ở những không gian thị trường tự phát). Tính phi lý trí thể hiện ở chỗ, khách hàng mua không gian không thuộc sở hữu của người bán. Việc giao dịch mua bán là một quá trình bắt tay đồng tình trong việc cùng nhau chiếm dụng không gian công cộng. Sự lây lan của tính phi lý trí liên hoàn này nghiễm nhiên được khỏa lấp bằng nguồn khoái cảm không hẳn từ giá cà phê, thức uống rẻ mà từ cảm giác thoải mái được tìm thấy một “góc sống”, “góc hít thở”, “chốn dừng chân” bình dị, thị dân nhiệt thành trong bạn sẽ nhắm mắt hưởng thụ cái khoái cảm của kẻ tìm thấy một chỗ bên lề đời sống, bên lề mọi quy tắc hay khế ước mới, để được tự do tự tại sống cho mình, cho những người có hành xử tương đồng.
Những cái đầu vẫn chụm lại bên chiếc bàn nhỏ. Những bờ ranh trong công viên bạ bệt la liệt người. Những câu chuyện dài bất tận. Thế rồi một hôm, tôi nhận ra cái anh chàng khó tính ưa vặn vẹo lý sự trong tôi đi vắng.
Tôi khuấy cái thứ nước đen loãng sủi bọt trong ly đá viên đang tan vội vàng và chợt thấy có một điều kỳ thú mới lạ trong cảm nhận về cà phê cóc. Tôi nhận ra đùi các cô gái đẹp trước mặt đều trở nên dài hơn ở góc nhìn thấp này. Chi tiết đắt giá đó khiến tôi nhớ đến những bộ phim độc đáo của đạo diễn lừng danh Nhật Bản Ozu Yasujiro, người luôn chọn góc máy thấp, ngang tầm ngồi của gười Nhật để kể chuyện thế giới. Góc máy và tiết tấu chậm và không gian tĩnh đó đã làm nên một tính cách điện ảnh đặc biệt khó lẫn. Đứng ở tư duy điện ảnh, tôi lại nhớ về tầm nhìn từ quán cà phê cóc và tự hỏi, nếu chọn một góc máy cho quán cà phê cóc Sài Gòn, thì chúng ta cho góc máy ở độ cao nào? Vì dụng ý nghệ thuật gì, thông điệp ra sao ngoài việc nhìn thấy các cô gái đi ngang qua đều có những cặp chân rất dài? Có một ý niệm hay mỹ cảm nào đó nằm bên dưới cái quyết định phi lý trí khi chúng ta tìm đến đây, ngồi miên man với một cuộc sống không được phép chậm lại và cũng không hẳn là nhanh, nơi mà chúng ta luôn thỏa hiệp và luôn kháng cự, luôn chống chọi và lại luôn thích nghi. Góc nhìn đời sống từ vị trí này sẽ khác gì khi ta đang nhập vào những vai trò khác trong đời sống? Vì sao người ta có thể đọc nhật trình rồi ngôn luận rất tự do ở quán cóc lại im thin thít và lặn mất tăm khi đứng trước những khuất tất trong công việc chỉ sau đó ít giờ?
Câu hỏi đặt ra từ đầu, liệu ngồi cà phê cóc để bàn về chính cà phê cóc thì gọi là gì, có lẽ sẽ không được trả lời một cách thấu đáo theo kiểu cách của những người cố choàng lên nó một lớp áo văn hóa hay bản sắc. Bởi, nó chỉ đơn giản là một sự chuyển hóa thói quen từ không gian sống này sang không gian sống khác, từ phương thức sống này sang phương thức sống khác trong một xã hội có năng lực tự phát và phi lý trí cao.
Bài viết này có lẽ không được lòng lắm với những ai coi thú cà phê cóc là một bản sắc của thị dân văn minh và cố gắng xóa đi dấu vết của những mối liên hệ gốc gác nông thôn (nếu có). Nhưng, cũng như cái huyễn tưởng về không khí dân chủ và trữ tình mà không gian quán xá mang lại, đây chỉ là một tiếng nói duy ý chí của một kẻ dở hơi, chọn một góc nhìn thấp bên lề dòng chảy rối mù nhộn nhịp kia hỉ để chong mắt tìm một cặp đùi trắng nõn nào đó đầy khiêu khích sẽ bước ngang qua.
Mọi cặp đùi, đơn giản, đều có thể dài. Đó là trải nghiệm mà nền cộng hòa phi lý bình dân của cà phê cóc có thể cho không biếu không chúng ta.
Theo: Tạp chí CF

Uống cà phê ở New York


“Đỗ” ở ngay trung tâm khu sinh viên St.Marks, “Xe Máy” là tiệm bánh mỳ số 1 của không chỉ các du học sinh đang sống và làm việc ở New York. Đứng đằng sau thành công của tiệm là Davis Ngô và Alan Woo, đôi bạn từ thưở niên thiếu có cùng chung một đam mê ăn uống.
Tại sao lại là Bánh Mỳ Xe Máy? Người Mỹ trước nay vẫn quen thuộc với Phở và gọi nó là Phở Xe Lửa (nhiều người còn nói Xe Lửa=XL=extra large, kích cỡ một bát phở ở Mỹ) nên chúng tôi mới có ý tưởng về Bánh Mỳ Xe Máy, một cái
dễ nhớ lại gần gũi với phương tiện đi lại số 1 của Việt Nam. Bỏ những công việc cũ để bán Bánh Mỳ có quá liều lĩnh khi New York đã có sẵn rất nhiều tiệm bánh mỳ?
Tôi và Alan là bạn thân, cùng đam mê ăn uống và tìm hiểu học hỏi rất nhiều từ ẩm thực bốn phương mỗi khi chúng tôi đi du lịch vòng quanh thế giới. Bản thân tôi cũng lớn lên trong tiệm bánh mỳ truyền thống mà gia đình tôi từng sở hữu.
Super Cub Classic, lựa chọn số 1 của các khách hàng thân thuộc của Xe Máy cũng được ra đời nhờ rất nhiều bí quyết, kinh nghiệm 20 năm làm nghề của gia đình tôi. Ước mơ và cũng là mục tiêu sắp tới của “Xe Máy” là trở thành thương hiệu lớn tầm cỡ như Subway với chất lượng bánh mỳ, chất lượng phục vụ và không gian còn tốt hơn nữa.
Nghe nói Bánh Mỳ còn có cả Hall of Fame (Không gian để tôn vinh)? (Cười) Hall of Fame là ý tưởng từ chính các khách hàng thân thuộc của chúng tôi. Rất nhiều người yêu mến ký tên, để lại những lời nhận xét dễ thương cho “Xe Máy”. Giờ bức tường đã gần kín đặc và nếu bạn để ý sẽ thấy rất nhiều tên trùng lặp, đặc biệt là những khách hàng ghiền Super Cub Classic cùng với cà phê sữa đá. Người Mỹ vốn sợ béo, liệu có ngại sữa đặc có đường trong cà phê sữa đá? Tôi nghĩ là không. Sữa đặc mang lại vị ngọt, ngậy đậm đà cho cà phê. Vào mùa hè, khách đặc biệt yêu thích cà phê sữa với đá nghiền. Họ còn thích “Basil Limeade Fizz” (lấy ý tưởng từ Soda chanh đường) và “Iced Lychee Green Tea”.
New York không thiếu quán ăn Việt Nam nhưng để tìm một không gian đặc Việt Nam với món ăn, cà phê phin, bia 333 made in Việt Nam, chỉ có thể là “Ăn Chơi”.
Tôi có chút giật mình lần đầu ngồi ở “Ăn Chơi”. Quầy lễ tân và pha chế có thiết kế nhang nhác giống một xe đẩy bán cơm bình dân. Bức tường với những dòng in “Khoan cắt Bê-tông” ngổn ngang chẳng khác gì những quán ăn vỉa hè Việt Nam gần gũi. Tranh cổ động không thiếu. Một cái nón Việt được treo hững hờ rất đúng chỗ. Design giầu tâm huyết này chính là kết quả của nhiều lần về thăm, tìm hiểu ẩm thực và thiết kế của quán ăn Việt Nam của chủ quán Bùi Tuấn, một người sinh ra và lớn lên ở bang Virginia, Mỹ. Cà phê phin ở “Ăn Chơi” được phục vụ đúng kiểu chữ không công nghiệp hoá với máy pha cà phê kiểu Mỹ. Cà phê được chủ quán cất công nhập từ Buôn Mê Thuột. Để ý thì thấy cạnh giá tủ đựng cà phê là một dãy bia 333 và cả bia Lào vốn là của hiếm ở New York. Những ngày hè nóng nực ở New York, điều tôi thường nghĩ ngay đến là một ly bia mát lạnh ở “Ăn Chơi”. Những lúc chiều, nắng chiếu xiên qua khung cửa sổ cứ làm tôi nhớ đến những cảnh phim của Mùa hè chiều thẳng đứng. Lên cơn đói bụng, tôi thường chọn món bò lúc lắc hay gỏi xoài cho mát dạ. Mùa đông, ngắm tuyết rơi và xì xụp bún bò Huế hay phở bò thì đúng là nhất. Thưởng thức món ngon mà không bị cảm giác sợ ăn phải nhiều mì chính như các quán ăn Việt có chủ người Hoa ở China Town. Những khi có bạn bè Việt Nam ghé thăm và lên cơn thèm đồ Việt, tôi hay dẫn đến “Ăn Chơi” vì có thể yên tâm về menu ngon mà không sợ bị chế biến quá mức (fusion) không nhận ra như các quán ăn Việt sang trọng hạng A (fine-dining) như Indochine, Le Colonial... với mức giá cao chóng mặt. Và cũng giống như tôi, bạn bè ai tới đây lần đầu cũng cảm nhận về một góc của Việt Nam quen thuộc và gần gũi. Ở xa mà vẫn luôn như ở nhà, người ta yêu “Ăn Chơi” có lẽ là vì thế!

Thử tưởng tuợng bạn bước chân vào một quán cà phê có dáng dấp một nhà máy cà phê tương lai. Hạt cà phê từ khắp thế giới được để riêng trong các khay lớn hình ống, gắn kết bởi một loạt khối máy móc đầy phức tạp, công phu. Khi người bán hàng nhập vào máy vi tính 3 giống hạt cà phê bạn lựa, hột cà phê từ 3 khay tương đương được hút lên trên không, bay chung vào một ống dẫn lớn, cùng được xay nhuyễn, rang, đun, lọc ngay tại chỗ. Chỉ mất 30s từ lúc bạn đặt hàng, ly cà phê đã sẵn sàng để bạn thưởng thức. Thật giống như tiệm cà phê của năm 2050 phải không? Ấy vậy mà tiệm cà phê kiểu tương lai ấy đã có ở trung tâm New York với cái tên: “Roasting Plant”.
Mike Caswell, người sáng lập ra của “Roasting Plant” từng là “lính cũ” đóng góp nhiều thành công cho Starbucks. Với bằng kỹ sư lành nghề, Mike nung nấu niềm đam mê công nghệ cùng tình yêu dành cho cà phê với hoài bão sở hữu một quán cà phê mang lại trải nghiệm hoàn hảo cho khách hàng. “Ở Mỹ không thiếu những quán cà phê ngon, nhưng từ trước tới nay chưa có quán cà phê nào thực sự cho người yêu cà phê có cơ hội được nếm, thử nghiệm với các giống hạt cà phê khác nhau từ khắp thế giới!”, Mike tâm sự. Nhằm giúp khách hàng hiểu biết tường tận về sự khác nhau của từng giống hạt cà phê, hàng tuần “Roasting Plant” còn có tiệc thử cà phê để khách hàng có dịp thưởng thức cà phê chung với các loại bánh ngọt tuơng ứng. Có tiệc thử rượu, ắt phải có tiệc thử cà phê!
Mike và các cộng sự du lịch khắp thế giới để chọn ra những giống hạt cà phê số 1 cho tiệm cà phê con cưng của mình. Vừa cười, Mike hé lộ: “Tôi chưa từng được thử cà phê Việt Nam và rất mong ngóng được khám phá cà phê châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng!”. Liệu sẽ có một ngày không xa “Roasting Plant” vươn tới châu Á? Ông chủ của “Roasting Plant” hóm hỉnh gật đầu.
Theo: Tạp chí CF


Bán cà phê cần có sự hiểu biết về văn hóa


Giống như một người bồi bàn ở tiệm ăn đưa ra lời khuyên về các món ăn trong thực đơn với khách hàng, Starbucks cũng đang có nhiệm vụ giới thiệu tính phức tạp của văn hoá cà phê với cách khách hàng quen của hãng.
Khi nhịp điệu Jazz nhẹ nhàng nổi lên, 25 người nâng cốc cà phê nhỏ, hít hương thơm của cà phê mới và rồi uống “xụp” một ngụm. “Uống xì xụp như vậy giúp bạn nếm được vị cà phê”, Pedro Man, giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Starbucks Coffee, giải thích trước khi yêu cầu nhân viên của ông miêu tả trải nghiệm uống cà phê của họ trong tuần qua.
Việc nếm cà phê hàng tuần như vậy là một hoạt động hoàn toàn nghiêm túc đối với chuỗi cửa hàng bán cà phê không lồ này. Hiện Starbucks đang có 1146 cửa hàng cà phê trên khắp châu Á – gần gấp hai lần con số này ở châu Âu.
Đối với Starbucks, việc đào tạo “kiến thức về cà phê” cho các nhân viên châu Á là một nhiệm vụ kinh doanh quan trọng. Bản thân lớn lên và uống trà trong cửa hàng kiểu Trung Quốc ở Hồng Kông, Man thừa nhận rằng ông mới chuyển sang uống cà phê. Man nói: “Trước khi gia nhập vào Starbucks, tôi rất hiếm khi uống cà phê. Và nếu uống thì tôi thường dùng cùng với kem và đường. Nhưng giờ đây tôi thường uống cà phê đen.”
Ông không phải là trường hợp duy nhất như vậy. Hầu hết các barista – những người được huấn luyện nghệ thuật chuẩn bị cà phê hơi, cũng không có thói quen uống cà phê từ nhỏ. Đó là một vấn đề, vì theo Man, các nhà hàng Trung Quốc và Starbucks giống nhau ở chỗ có các hoạt động marketing chính phụ thuộc rất nhiều vào những người bồi bàn và nhân viên – không phải nhân viên quảng cáo.
Man nói: “Tôi thấy có rất nhiều điểm tương đồng giữa nhà hàng Trung Quốc của tôi với cửa hàng của Starbucks. Ở nhà hàng có mối liên hệ giữa người bồi bàn và khách hàng. Có những khách hàng lui tới cùng một cửa hàng, yêu cầu phục vụ cùng một món dim sum và trà lá, và luôn bắt đầu nói chuyện với bồi bàn”.
Vì vậy, nhiệm vụ của Man là phải dạy các nhân viên Starbucks của mình sao cho các bồi bàn người Trung Quốc hiểu rõ về cà phê như món dim sum vậy. Ông nói: “Cà phê là cái quan trong nhất. Nó là điểm chính để phân biệt giữa chúng ta và các nhà cung cấp cà phê khác. Nếu chúng ta truyền được hiểu biết của chúng ta cho khách hàng, thì họ sẽ trở thành các đại sứ của thương hiệu này”.
văn hóa uống cafe văn hóa cà phê Starbucks Cafe Starbucks  Starbucks:những người bán cà phê cần hiểu rõ về nền văn hoá cà phê
Ông bắt đầu công việc giáo dục, dùng sáu tháng vào việc say sưa huấn luyện về cà phê ở Seattle khi ông bắt đầu vai trò giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương cách đây 5 năm. Man nhớ lại khoảnh khắc khi phục vụ khách hàng: “Tôi cảm thấy căng thẳng khi người ta yêu cầu một tách cà phê sữa thật nóng có vanilla, không đường, được hớt váng, được lọc hết caféin”.
Ông nói: “Khi mới bắt đầu công việc, tôi đã nghĩ ‘Cái này cũng giống như bia đắng vậy. Chẳng có gì mà phải mất thì giờ với nói!’ Nhưng khi hiểu nhiều hơn, tôi nhận ra rằng cà phê cũng giống như rượu. Ông đưa lên mũi để tìm sự khác biệt tinh tế trong nồng độ a-xít và hương thơm qua tách cà phê, khi nhấpmột ngụm nhỏ của nhiều loại cà phê và rồi phì nó ra sau khi nếm một lúc. Bây giờ, ông yêu cầu tất cả các barista người châu Á phải trải qua chương trình đào tạo về cà phê kéo dài 13 tuần, kể cả thời gian vào “phòng thí nghiệm mùi hương” để hiểu được hương vị kín đáo của cà phê. Ngoài việc nếm cà phê hàng tuần, các nhân viên Starbucks còn có buổi tụ họp uống cà phê chính thức với nhau. (Bản thân Man hiện nay uống ít nhất ba tách cà phê mỗi ngày.)
Tuy nhiên, ông cũng muốn khoá đào tạo càng mang tính vui vẻ càng tốt. Trong năm ngoái, ông đã khuyến khích các barista người châu Á tham gia vào một chương trình “thông thạo về cà phê” – một dạng Olypics về cà phê, trong đó các nhân viên thi với nhau xem ai hiểu biết nhiều nhất về cà phê ở mức độ địa phương, khu vưc và thế giới. (Một câu hỏi trong đó là: Nhiệt độ lý tưởng của sữa trong một tách cà phê sữa là gì? Câu trả lời đúng là 190 độ F.) Sau khi đã qua bài kiểm tra này, những người thông thạo về cà phê còn phải trình bày về khía cạnh đặc biệt của nền văn hoá cà phê.
Những người thông thạo về cà phê ở cấp độ địa phương thi với nhau để trở thành “đại sứ cà phê” trên thị trường. Năm nay, Man muốn các đại sứ đó thuộc mỗi thị trường phải thi với nhau để tìm nhà vô địch vầ cà phê ở châu Á. Ông nói: “Cuối cùng chúng tôi sẽ tìm đại sứ về cà phê của thế giới.” Nghe có vẻ hơi cường điệu, tất cả chỉ nhằm đào tạo để hiểu về một cốc cà phê. Nhưng khi một chút hiểu biết có thể giúp bạn bán được sản phẩm thì việc học tập để có sự hiểu biết đó cần được khuyến khích.
Sưu tầm

Cà phê đắng


Nếu đã gọi là trải nghiệm với đời thì những gì là cai – đắng – ngọt – bùi bao giờ cũng là biến cố. Mỗi hương vị ấy đều có cảm nhận khác nhau theo từng cung bậc của nốt nhạc thăng trầm mà được trổi dậy bởi sự tác động của chủ nhân. Xin Bạn một lần thưởng thức ly cafe không đường để biết được nó hoàn toàn không bao giờ đắng….
Cái cảm giác ngồi quán cóc lề đường uống café sẽ khác với cảm giác khi bạn ngồi trong quán, cái cảm giác ngồi uống một mình cũng sẽ khác khi ngồi với bạn. Ngồi một mình, bạn đang có một sự băng khoăng khó tả, một điều gì đó khiến bạn cần cái không gian tỉnh lặng để lắng lòng lại và suy nghĩ. Riêng ngồi với bạn bè, hạnh phúc nào hơn thế!
Buổi sáng ta uống ly cafe cho tinh thần sảng khoái để bắt đầu một ngày mới tất bật với cuộc sống mưu sinh đời thường. Buổi sáng ngồi uống cafe hình thành cho ta khói quen dậy sớm để thưởng thức khí trời mát dịu của màn sương đêm còn đọng lại. Buổi sáng ngồi nhâm nhi ly cafe trên tay cầm tờ báo như dân trí thức sành thông tin để giao đôi hữu nghị. Buổi sáng uống cafe và hút một điếu thuốc sặc mùi làm lòng ta ấm lại. Buổi sáng cafe như mọi ngày, thiếu một ngày đời ta như hụt hẫng !
Buổi trưa uống cafe để tinh thần thư giãn để bắt đầu buổi chiều đầy “manh động”. Buổi trưa uống cafe nhưng thật ra ít uống cafe, chỉ là khói quen để nghỉ trưa mà thôi. Buổi trưa uống cafe ngồi một mình hay với bạn chỉ là như nhau !
Buổi chiều ít ai uống cafe vì tinh thần ta đang xuống. Buổi chiều không bao giờ uống cafe để ta về với gia đình, về với mái nhà thân yêu của ta để rũ bỏ sạch mọi ưu phiền của tạo hóa.
Buổi tối uống cafe chỉ thường dành cho ai chưa có gia đình hay đời còn hưng phấn. Buổi tối uống cafe để chuyện trò của ngày hôm đó. Buổi tối uống cafe vì thời gian đó người ta mới rảnh rỗi. Buổi tối uống cafe nhưng thật tình ít ai uống cafe. Buổi tối không uống cafe vì bạn cần yên giấc để ngày mai bắt đầu. Buổi tối chỉ giải khát để cho nhẹ trong lòng. Buổi tối cafe ít uống một mình vì ta cần bạn bè. Buổi tối cafe chỉ dành cho những ai đang cô đơn !
ly cafe  Ly cafe đắng
Dù cho bạn uốngcafe vào thời điểm nào đi chăng nữa thì cũng chỉ sẽ chọn loại cafe quen thuộc mà mình ưa thích. Ly cafe đen đá, ly cafe sữa đá hay còn gọi là cafe nâu, ly bac sỉu thơm nồng mùi sữa đặc sẽ dậy lên niềm phấn khỏi. Nhưng, có bao giờ chủ động hay vô tình uống một lý cafe không đường thì bạn sẽ cảm nhận nó như thế nào?. Ban đầu nó đắng rất khó uống nhưng nó sẽ ngọt khi tan trong bạn.
Trong cuộc đời này, có nhiều thứ ập đến mà bạn không bào giờ lường trước được, bạn đang sống trong sự yên bình và hạnh phúc nhưng tạo hóa trớ trêu xua bạn vào nghịch cảnh. Lúc đó, vị đắng thật sự đang đến với bạn cùng vị ngọt ngày nào sẽ tạm thời tan đi, niềm vui xua tan cùng nổi buồn bao kín.
Hơn bao giờ hết, Ban ước gì mình có một ly cafe không đường , ly cafe không lẫn bất kỳ một tạp chất nào mà còn sơ khai nguyên bản, cái gì tự nhiên ban đầu không bao giờ sẽ đẹp hơn cái nhân tạo, con người thật lúc nào cũng khó dễ dàng tiếp nhận hơn con người giả dối. Ly cafe có đừơng dễ uống hơn ly cafe không đường. Và tất cả theo thời gian, trong thâm tâm của mình, cái tự nhiên luôn được tôn thờ và vẻ đẹp hoàn mỹ luôn được kính trọng, ly cafe không đường trong thời điểm ấy sẽ cực kỳ ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Văn hóa cà phê đa dạng tính cách

Có người nói: "Cà phê không phải là thú thanh thản như trà, càng không mạnh mẽ bạo liệt như rượu. Người thưởng thức nhẹ nhàng cho rằng cà phê là gạch nối giữa niềm vui và nỗi buồn. Với ai đang muộn phiền, cà phê càng day dứt như một bản nhạc có nhiều dấu lặng. Còn những kẻ môn đồ của giáo phái cà phê thì cho đó là người đàn bà mang bùa ngải trong mình...."
Chính vì thế một nghịch lý đã xảy ra, khi cuộc sống càng đầy đủ bận rộn thì vai trò của cà phê càng trở nên quan trọng hơn trong đời sống thường nhật, nhất là đối với giới mày râu. Đàn ông không chỉ uống cà phê như một nhu cầu giải khát sinh học mà từ lâu nó đã trở thành một "thú thưởng thức" mang nhiều tính cách cá nhân.
Cũng ngần đó loại cà phê nhưng mỗi người lại đến với cà phê theo mỗi cách khác nhau.
Những người đàn ông có tuổi, người mang nhiều tâm sự hoặc sống hướng nội không thích những chốn ồn ào, sôi động. Họ thường tìm đến những góc quán có không gian trầm lắng, nhẹ nhàng, thông thoáng. Trong ngõ sâu hoặc trên những con phố vắng người để trải lòng với những tách cà phê, đắm mình trong những bản nhạc dịu êm hoặc một không gian thiên nhiên thư thái bên giỏ lan, bên con suối nhân tạo róc rách.
Những người này có thể bỏ hàng giờ, hàng buổi thậm chí là cả ngày để được uống cà phê và quên đi mọi tâm sự của mình. Họ xem đó cũng là một kiểu giải toả stress "không đắt tiền". Nổi tiếng nhất đối với những quán cà phê dạng này là cà phê Sỏi Đá, Tuấn Ngọc, Thiên Thai, Tĩnh lặng, Tưởng Niệm, Niết bàn,... (Sài Gòn) hay Phố Cổ,... (Hà Nội).
Riêng những người bạn trẻ là sinh viên, học sinh hoặc những người mới đi làm thường tìm đến những góc quán vui nhộn, sang trọng và trẻ trung họ thường đi thành nhóm và nói chuyện rất sôi nổi bên tách cà phê. Quán họ tìm đến là quán có không gian hiện đại, mang màu sắc Âu và thường nằm ở những con phố lớn, có view hướng ra đường, hầu hết đều có máy điều hoà nhiệt độ và màn hình ti vi lớn.
Bước vào quán là bước vào một thế giới sôi động, náo nhiệt với những bản nhạc rock nảy lửa hay những bộ phim hành động "ác chiến". Giới trẻ tìm đến đây vì những quán dạng này mang đến cho họ những cảm giác hết sức thoải mái, họ tha hồ nói chuyện cười đùa, ăn uống mà không sợ gây ảnh hưởng đến những người xung quanh. Papilon, cafe Nhân... (Hà Nội), Hình Như Là, Viet"s Top, cát Đằng, Bờ Hồ, Grammy... (Sài Gòn) là những quán dạng này.
Hai chiếc ghế nhựa hoặc gỗ, một ngồi và một để cà phê. Có thể ngồi trên vỉa hè, trong hẻm nhỏ nào đó vào bất cứ thời điểm nào. Đó là kiểu uống cà phê bình dân nhất, phổ biến hiện nay nhất ở Việt Nam. Đối tượng uống cà phê kiểu này đủ mọi thành phần, lứa tuổi. Họ uống cà phê như một nhu cầu giải khát hay một thói quen thường nhật nên không câu nệ về không gian.
Riêng ở Hà Nội, không biết từ bao giờ uống cà phê dạng này như đã trở thành một nét văn hoá. Chỉ cần dạo qua con phố Nguyễn Du, Lý Thái Tổ bạn sẽ dễ dàng bắt gặp cảnh đông đúc người ngồi bên vỉa hè uống cà phê dù vào mùa hè hay mùa Thu. Những quán dạng này tuy hơi xô bồ, bụi bặm nhưng trái lại người uống cảm thấy rất thoải mái và tiện lợi, giá cả lại phải chăng. Ở Sài Gòn, quán Môri trên đường Hồ Văn Huê là quán cà phê vỉa hè lớn nhất và được dân nghiền cà phê vỉa hè gọi vui bằng cái tên "chốn về bình yên".
Đối với dân văn phòng thì điểm đến quen thuộc và thường xuyên nhất có lẽ vẫn là cà phê wifi phủ khắp khuôn viên quán cộng với không khí dễ chịu, thoải mái là điểm thu hút nhất. Thần dân của quán là những người không thích môi trường làm việc gò bó của văn phòng, họ tìm đến đây như một cách làm việc tự do. Ngồi ở đây, vừa làm việc vừa có thể nhâm nhi cà phê hay tán gẫu cùng bạn bè. Mà họ vẫn gọi là "vừa làm vừa chơi".
Dạng quán cà phê độc đáo nhất vẫn là dạng quán chuyên về một thú chơi nào đó. Chẳng hạn, quán nhạc Trịnh là nơi hội tụ của dân mê nhạc Trịnh, quán xe cổ - là nơi trưng bày nhiều bộ sưu tập về xe máy cổ, Yoko là quán dành cho các fan nhạc rock, Đồng Quê - quán tái hiện lại không gian của làng quê thuần Việt với những vật trang trí thân quen như cái cày, bộ quang ghánh, cái liềm, lợp mái tranh... thậm chí, trong thời gian gần đây, khi thị trường chứng khoán rộ lên như một cơn sốt, thì xuất hiện những quán cà phê chuyên cập nhập thông tin chứng khoán để hút khách.
Cá tính và độc đáo là "tính cách" của quán hay cũng chính là tính cách của những người đến đây. Họ tìm đến quán vì họ nhận thấy "gu" của quán hợp với gu của mình. Do đó quán là điểm gặp gỡ thường xuyên của những người có cùng sở thích, đam mê. Đây là kiểu cà phê in đậm dấu ấn cá nhân rõ nét nhất nhưng lại chiếm số lượng nhiều nhất.
Đi vào đời sống tự nhiên như không có gì đặc biệt. Nhưng người ta dễ dàng nhận thấy, càng ngày cà phê càng định hình rõ nét như một sắc màu văn hóa đối ẩm chẳng khác gì trà. Và trong cơn lốc của thị trường, của cuộc sống đó không phải là điều khó lý giải đối với giới mày râu.
Theo Netlife

Cà phê với danh nhân

Nhiều quán cà phê nổi tiếng thế giới vì từng là nơi các nhà văn, nghệ sĩ đã lui tới nhiều thập niên, và nay tự hào trưng biển rằng “Hemingway đã uống cà phê ở đây”, “Picasso đã vẽ những phác thảo quan trọng của bức tranh trên cái bàn này”… Nhưng đó là khi có người nổi tiếng đã giơ bàn tay phù phép cho quán cà phê nọ. Còn vô số quán xá khác, ở ngay đầu phố ta sống, cạnh cơ quan nơi làm việc, hay lãng mạn hơn, ở một góc hồ lãng đãng, ta vào vì đủ lý do. Tiện đường chẳng hạn, điều này nhiều khi đúng với số đông, nào là dễ để xe, hoặc án ngữ một ngã tư quang đãng, nơi chỉ cách nơi làm việc vài tầng nhà. Cái lý do tầm thường này thực tế cũng chính là điều tiên quyết khiến các nhà kinh doanh bỏ tiền ra thuê hoặc mua địa điểm. Chỗ nào mà dân văn phòng nhiều, cánh trí thức thích bàn luận thế sự, hay các chàng sinh viên đương tuổi cua gái, thì đắc địa để mở quán. Không ai mở quán cà phê ở đồng không mông quạnh hay phơi mặt ra công trường bụi bặm.
Những chỗ ấy chỉ nên mở quán nước chè hoặc quán rượu lục lâm. Cà phê là nhu cầu tiện lợi, thư giãn và giải tỏa dăm ba cơn stress thường nhật. Cà phê gắn với đô thị, với phố phường, với một vài quy tắc ứng xử nhất định. Quán nước chè thì không, và quán rượu thì ai cũng biết là chốn rượu vào lời ra.
Một lý do khác để vì sao ta vào, là đồ uống ngon. Cà phê ngon ắt là một tiêu chuẩn không thể xem thường. Chẳng thế mà người ta vẫn cứ lặn lội đến những quán cà phê trứng, cà phê muối như Café Giảng ở Hà Nội dù quán này đã chuyển địa điểm từ Hàng Gai ra Nguyễn Hữu Huân và Yên Phụ. Cho nên tiện đường mà cà phê không đặc sắc thì chỉ như loại báo giấy đọc lấy tin rồi thôi. Thiết thực nhưng không nhất thiết lưu trữ. Ngay những quán nổi tiếng Hà Nội trước đây, “Nhân – Nhĩ – Dĩ – Giảng”, chẳng quán nào có địa điểm hoành tráng, đều bé nhỏ, chật hẹp và tối tăm. Hay là có khi cũng giống như món phở Hà Nội, mấy quán cà phê ngon này đều không bận tâm đến làm đẹp nên có thời gian hơn để tập trung vào tìm công thức pha cà phê cho ngon! Rõ ràng, lý thuyết địa điểm làm nên quán cà phê đã từng bị xô đổ. Nhưng theo thời gian, người Hà Nội thế hệ mới đã biết đến những quán cà phê rộng mênh mông hàng trăm, thậm chí hàng nghìn mét vuông với cả trăm người ngồi thoải mái trong những xa-lông êm ái. Có tiền của thì nhu cầu phải cao hơn chứ.
Ấy vậy cứ ra phố là thấy đầy những quán cà phê ghế nhựa bám chặt lấy các vỉa hè, và sự thật là rất đông giới trẻ tỏ ra hứng thú với sinh hoạt ngồi quây quần quanh đĩa hạt hướng dương và vài cốc đồ uống có hương-gọi-là-càphê để ngắm nghía đường phố và tán tỉnh nhau. Làm sao mà những bạn thế hệ 9x này lại không biết những quán cà phê đẹp mọc lên ngày một nhiều ở Hà Nội, và phim ảnh có quán cà phê thì mới đây thôi, Woody Allen đã tái hiện cả những quán Paris một thuở trong bộ phim Midnight in Paris (Nửa đêm ở Paris). Cảm hứng của những Hemingway, F. Scott Fitzgerald, Dalí hay Chagal của một thời đại hấp dẫn của văn hóa cà phê Paris xem ra chẳng ăn thua gì so với thói quen tụ bạ vỉa hè của dân Hà Nội, dù là thế hệ mới đi nữa. Ta có thể thấy trên vỉa hè các con phố quanh quảng trường Nhà thờ Lớn Hà Nội kín đặc những cô gái tóc duỗi mắt đánh quầng sẫm ngồi sát những cậu trai mặt măng tơ, trước mặt là mấy cốc cà phê đặt trên cái ghế nhựa, thu lu trong cái rét mùa đông, họ hoặc cầm điện thoại hoặc giơ máy ảnh lên chụp cảnh, chụp lẫn nhau và tự chụp mình. Và chấm hết. Chả có tiện nghi gì, và cũng chẳng có hoạt động gì thêm.
Đó chính là một huyền thoại nữa của các vỉa hè cà phê Hà Nội để có thể đưa ra thêm một lý do cho việc lui tới uống cà phê. Tâm lý cộng đồng (“bầy đàn” như cách nói tiêu cực!) của giới trẻ ở đây làm nên khung cảnh ấy, họ tìm đến một nơi có tính kết nối – bằng thời trang như mốt quần áo hay cosplay, bằng phương tiện như xe máy cổ, bằng thú vui như chụp ảnh và cả tinh thần của thế hệ “thiên niên kỷ”. Nếu chúng ta thấy sự tương đồng của những bạn trẻ sinh ra khi “thế kỷ tàn phai” (Trịnh Công Sơn) với hình ảnh của những quán cà phê cũ kỹ khi họ chưa ra đời thì đó là nhờ đặc tính tụ họp của quán xá. Khi nhân rộng lên, không khí ngồi bên nhau bắt mạch tư tưởng này có dáng dấp một loại carnaval xôm tụ. Quán cà phê vừa là diễn đàn nghị sự của các thế hệ (Già: Ông có đồng ý tháng tới Mỹ đánh Iran không? Trẻ: Tao mới săn được quả Leica này chất cực! Trai: Rầu quá, má con nhỏ đó cấm cửa tao. Gái: Thông tin lạc hậu rồi, tao giải tán rồi, thế mới ngồi đây cả lũ đàn bà với nhau - Đại loại những loại tâm sự thế kỷ trước hay thế kỷ sau cũng vẫn vậy), vừa là chốn khởi sự cho những mối quan hệ hay ý tưởng mới (hẹn hò làm quen nhau có lẽ 9/10 diễn ra ở quán cà phê!). Quán cà phê là thế - cũ thì như loại tình yêu đến hồi kết và mới thì như mắt gặp nhau vội cụp xuống sau làn khói.
Có thể nói, không có loại quán xá nào ở Việt Nam lại có khả năng tạo dựng phong cách của người thưởng thức như quán cà phê. Ở phương Tây, quán rượu hay quán bar khả dĩ lấn át quán cà phê và giai nhân tài tử đưa nhau vào đấy có khi còn để dìu nhau trong vài bài nhảy tiêu sầu, để mượn hơi men ngây ngất thắng cái lạnh của những mùa đông dài dằng dặc. Ở Trung Hoa, ca lâu tửu quán đã ghi dấu ấn đậm trong văn thơ cổ đến mức tình quán rượu kiểu Thủy Hử xem ra chẳng khác gì trên phim cao bồi miền Tây Mỹ, gái xưa vén váy tầng khoe  tất lưới rút súng nhanh hơn cái bóng của Lucky Luke. Nhờ trời, hai nguồn ảnh hưởng văn hóa ấy lại không đủ sức khiến quán rượu Việt Nam sinh ra phong trào thời thượng nào, chỉ neo lại đây đó là Nguyễn Bính lướt khướt “Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ. Uống say mà gọi thế nhân ơi” và Vũ Hoàng Chương rên rỉ: “Em ơi! Lửa tắt bình khô rượu. Đời vắng em rồi say với ai?” Ở mấy quán rượu đấy, gái không có mặt.
Chỉ có quán cà phê, mới có những bóng hồng đối ẩm với thi nhân. Và cũng tình cờ thay, cho đến tận ngày nay, quán cà phê cũng là chốn duy nhất mà phái đẹp lui tới không gây thắc mắc gì. Quán rượu, quán bia, quán bar, những thứ quán dễ gây dị nghị khi chị em vào đấy, thứ dị nghị vô căn cứ nhưng đủ sức vùi hoa dập liễu ở xứ ta. Quán nước chè mặc dù ít điều tiếng hơn, nhưng lại có vẻ úi xùi và bần cùng, dáng ngồi quán nước luôn đọng lại vẻ buồn nghèo như tranh Bùi Xuân Phái. Cà phê rút cục là sự lựa chọn vô cùng mềm dẻo cho đủ thành phần người trong xã hội. Ở những quán cà phê Sài Gòn, vẫn dễ thấy những bác chạy xích lô, xe ôm lấm lem dầu mỡ tạt vào ngồi trên ghế bố uống ly cà phê bình đẳng với những trí thức văn phòng đóng hộp chỉn chu.
Cách đây mười mấy năm, có những quán cà phê tụ họp người yêu nhạc đến hát cho nhau nghe. Khác với cà phê Lâm vốn toàn nghệ sĩ tên tuổi của thời xưa cũ, ở đây là những sinh viên hay trí thức trẻ hát hò nghiệp dư, nhưng đã chung nhau niềm say mê một dòng nhạc, một thú chơi. Chẳng hạn quán Nhạc Tranh ở Hà Nội, tự lúc nào đấy đã tự mình làm thành một lịch sử của những người yêu nhạc Trịnh Công Sơn hay nhạc tiền chiến, họ đến đấy bày tỏ sự yêu thích với những giọng ca không chuyên, sự yêu thích mà chắc đến các ca sĩ đình đám cũng phải thèm muốn.
Mặc dù cũng được xếp vào loại đồ uống có chứa chất kích thích, nhưng cà phê lại hay được uống với một phong thái có phần nhàn tản, thư thái. Khó mà hình dung được ai lại tu cà phê ừng ực cho đã khát hay nốc tì tì cho say mèm. Mỗi chúng ta, thích uống cà phê hay không, ra đến quán là nghiễm nhiên khoác lên mình một dáng vẻ triết nhân, nghệ sĩ, ít nhất là hơn so với cái tôi bình thường nhạt nhẽo công sở hay trường ốc. Uống cà phê lúc này là uống một không khí, một buổi chiều có vạt áo kỷ niệm lồng lộng, một kỷ niệm lắm khi chẳng phải của mình, một kỷ niệm vay mượn, mà sao hương cà phê đưa đẩy ta nhập vai đến lạ.
Theo: Thế giới Cà phê | CF